PHẬT PHÁP 

Ý nghĩa danh hiệu của chư Phật

Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.

Tưởng nhớ đến các ngài là cốt học và làm theo những lời dạy của các ngài.

Việc tưởng nhớ sẽ thuận duyên hơn nếu chúng ta hiểu được ý nghĩa danh hiệu của chư Phật.

Danh hiệu của chư Phật nguyên bằng chữ Phạn (Sanskrit) hay Pāli Nhưng chúng ta đọc danh hiệu của hầu hết chư Phật theo âm Hán Việt của danh hiệu bằng chữ Hán.

Nếu danh hiệu bằng chữ Hán là từ dịch nghĩa của danh hiệu bằng chữ Phạn (hay Pāli) thì không khó để hiểu nghĩa.

Nhưng nếu đó là phiên âm ra chữ Hán của danh hiệu bằng chữ Phạn thì âm Hán Việt không giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của danh hiệu một cách dễ dàng được.

Vì vậy,trong bài này, chúng tôi tìm hiểu ý nghĩa danh hiệu của chư Phật bằng cách truy nguyên về danh hiệu bằng chữ Phạn và kết hợp với ý nghĩa của danh hiệu chữ Hán khi danh hiệu này là dịch nghĩa của danh hiệu nguyên tiếng Phạn

ảnh – ducphatadida.com

Ý nghĩa danh hiệu chung:

Danh hiệu riêng của một vị Phật là danh hiệu dành riêng để chỉ vị Phật cụ thể ấy chứ không thể dùng để chỉ các vị Phật khác được. Chằng hạn, Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni) là danh hiệu của riêng của đức Phật bổn sư thành đạo dưới cội Bồ đề, mà nguyên là Thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và Hoàng hậu Ma Da (Māyādevi); A Di Đà (Amitābha, Amitāyus) là danh hiệu của đức Phật hiện là Giáo chủ của Thế Giới Tây Phương Cực Lạc (Sukhāvatī)

Phật Thích Ca Mâu Ni – ducphatadida.com

Danh hiệu chung của các vị Phật được hình thành từ một đặc trưng về phẩm chất của các ngài qua đó con người tỏ lòng tôn kính đối với các ngài.

Lòng tôn kính của con người với chư Phật là vô biên, cho nên có thể nói số danh hiệu mà con người nêu lên để tỏ lòng tôn kính các ngài là vô lượng. Hòa thương Tuyên Hóa đã từng giảng :

lúc tối sơ mỗi một đức Phật đều có một vạn danh hiệu khác nhau. Về sau, vì người ta không thể nào nhớ được nhiều như thế, cho nên mới giảm bớt, chỉ còn một ngàn danh hiệu. Song, một ngàn danh hiệuthì người bình thường cũng không thể nhớ một cách mạch lạc được (như tôi chẳng hạn, một kẻ không có năng lực nhớ dai cho lắm—bắt đầu niệm từ danh hiệu thứ nhất trở đi, khi niệm đến danh hiệu thứ một ngàn thì tôi quên mất danh hiệu thứ nhất!); do đó, về sau giảm xuống còn một trăm danh hiệu. Tuy rằng mỗi một đức Phật chỉ còn một trăm tên gọi nhưng người ta cũng không thể nhớ hết được và cảm thấynhư thế vẫn còn quá nhiều, quá phức tạp; cho nên sau này lại giản lược chỉ còn mười tên gọi—mỗi đức Phật chỉ còn vỏn vẹn mười danh hiệu mà thôi.

     Mười danh hiệu của mỗi đức Phật là: 1) Như Lai, 2) Ứng Cung, 3) Chánh Biến Tri, 4) Minh Hạnh Túc, 5) Thiện Thệ, 6) Thế Gian Giải, 7) Vô Thượng Sĩ, 8) Điều Ngự Trượng Phu, 9) Thiên Nhân Sư, 10) Phật Thế Tôn

Mười danh hiệu này đều là nghĩa theo chữ Hán của mười danh hiệu bằng chữ Phạn trong Phật Giáo Đại Thừa (mahāyāna). Đã có những tài liệu giải thích ý nghĩa của mười danh hiệu này. Ở đây chúng tôi nêu ra các danh hiệu tương ứng bằng chữ Phạn và ý nghĩa tóm tắt :

1. Tathāgata : Như Lai (如 來) là người đã đến và đi như thế (trong cùng cung cách) (cũng như chư Phật đã đến và đi như thế, tâm không nhiễm ô, hiểu và nói đúng như các pháp vốn là) (Tathāgata = Tathā+gata = Tathā+ āgata, Tathā = như thế; gata = đã đi; āgata = đã đến ).

Ảnh – ducphatadida.com

2. Arhat : Ứng Cung (應 供) là người đáng được cúng dường (vì đã đánh bại Ma vương quấy phá bên ngoài và giặc phiền não bên trong, đã thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, có được nhất thiết trí).

3. Samyaksaṃbuddha: Chính Biến Tri (正 遍 知 )là người hiểu biết đúng tất cả các pháp như các pháp vốn là.( Samyak = chân chínhđúng đắn, tất cả; saṃbuddha = am hiểu trọn vẹn; Samyaksaṃbuddha = người giác ngộ viên mãn)

4. Vidyācaraṇasaṃpanna: Minh Hạnh Túc (明 行 足) là người có đủ trí huệ và đức hạnh (Vidyā = sự am hiểutrí tuệ; caraṇa = đức hạnh; saṃpanna = có được) .

5. Sugata: Thiện Thệ (善 逝 )là người đã đi trên con đường thiện (sugata = su+gata = đã đi tốt đẹp, người đã sống một cách tốt đẹp).

6. Lokavid: Thế Gian Giải (世 間 解) là người đã thấu hiểu thế giới (thế gian) (lokavid = loka+vid, loka = thế giớithế gian, vid = am hiểu).

7. Anuttarapuruṣa: Vô Thượng Sĩ (無 上 士) là Đấng tối cao, không ai vượt qua (Anuttarapuruṣa = Anuttara+puruṣa; Anuttara = vô thượng, tốt nhất không ai (cái gì) hơn được;  puruṣa = một con người, một bậc (đấng) tối cao).

8. PuruṣadamyasārathiĐiều Ngự Đại Trượng Phu (調 御 大  丈 夫) là người đã điều phục được mình và nhân loại (Puruṣa+damya+sārathi, Puruṣa = con người, damya = có thể chế ngự, điều phụcđược; sārathi = người cầm cương xe, người hướng dẫn, người lãnh đạo;  Pāli : purisa-damma-sārathi).

9. Devamanuṣyānāṃśāstṛ (śāstā devamanuṣyāṇāṃ, śāstā devānāṃ ca manuṣyāṇāṃ ca): Thiên Nhân Sư (天 人 師) là Bậc thầy của cõi người và cõi trời (Devamanuṣyānāṃśāstṛ = Deva+manuṣyānāṃ+śāstṛ, deva = vị trời; manuṣya = con người; śāstṛ = người thầy).

10. Buddhalokanātha = buddhalokajyeṣṭha = BhagavānPhật Thế Tôn (佛 世 尊) là Bậc giác ngộđược thế gian tôn kính (Buddhalokanātha = Buddha+lokanātha, lokanātha = vị chúa tể của các thế giới; lokajyeṣṭha = bậc ưu tú nhất loài người, bậc tối thượng của thế gian; Bhagavān = bậc đáng (thế giantôn kính).

  Ý nghĩa danh hiệu riêng :
        Trước hết chúng ta thử tìm ý nghĩa của danh hiệu của 3 vị Phật mà Phật tử quen thuộc nhất : Thích Ca Mâu Ni (釋迦牟尼), A Di Đà (阿彌陀) và Di Lặc (彌勒).

Như trên đã nói, danh hiệu Thích Ca Mâu Ni là âm Hán Việt của phiên âm ra chữ Hán của danh hiệu tiếng Phạn शाक्यमुनि (Śākyamuni) nên danh hiệu Thích Ca Mâu Ni không cho ta ý nghĩa chính xác.

Chính danh hiệu theo tiếng Phạn Śākyamuni mới giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa danh hiệu mà đức Phật Nhiên Đăng (s : Dīpaṃkara, p : Dīpaṅkara) đã thọ ký cho Bồ tát Thiện Huệ (Sumedha), là một tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni .

Śākyamuni là từ kép của hai danh từ Śākya và muni.  Śākya khi là danh từ riêng thì đó là tên của một bộ tộc thuộc giai cấp kṣatriya (क्षत्रिय, Sát đế lỵ ) làm chủ đất và thống trị vùng Kapila-vastu (कपिल-वस्तु), bộ tộc đã sinh ra đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Còn muni (मुनि) nghĩa là vị thánh, một nhà thông thái, một nhà tiên tri, một nhà tu khổ hạnh, một vị tu ẩn cư. Như vậy Śākyamuni là một nhà thông thái như một vị thánh của bộ tộc Śākya.

Khi śākya là danh từ chung thì có nghĩa là một khất sĩ Phật giáo (Buddhist mendicant), cho nên Śākyamuni cũng có nghĩa là một bậc thánh của hàng khất sĩ Phất giáo. Xin lưu ý rằng họ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Gautama (गौतम), cho nên ngài cũng thường được gọi là đức Phật Gautama (Pāli : Gotama).

Tương tự, khi chúng ta đọc tụng hồng danh Đức Phật A Di Đà (阿彌陀), chúng ta cũng không hiểu rõn ghĩa vì đây là âm Hán Việt của phiên âm ra chữ Hán của từ Phạn amitābha.

Giáo chủ của Thế giới Tây Phương Cực Lạc (sukhāvatῑ) là đức Phật mà hồng danh bằng tiếng Phạn là Amitābha hay Amitāyus  hay Amitaprabha hay Amitanātha.

Trong tiếng Phạn, từ  amitābha là từ kép tạo ra bởi sự ghép lại của hai từ : amita = vô lượng, nhiều vô số không thể đo, đếm được, và ābhā = ánh sáng, ánh huy hoàng.

Cho nên từ kép amitābha = Ánh sáng vô lượng = Vô lượng quangTương tự, amitāyus là từ kép tạo ra bởi sự ghép lại của hai từ amita = vô lương, và āyus = đời sống, tuổi thọ, nên Amitāyus = Tuổi thọ vô lượng = Vô lượng thọ.

Tương tự, Amitaprabha  là từ kép của amita và prabhā = ánh sáng, ánh huy hoàng; amitaprabha = Vô lượng quang; Amitanātha là từ kép tạo ra bởi amita và nātha = vị chủ, vị chúa.

Từ kép Amitanātha  nầy thuộc loại bahuvrῑhi, nên Amitanātha = người mà vị trí làm chủ là vô lượng. Cho nên Amitanātha cũng là Vô lượng thọ.

Ánh sáng vô lượng tương trưng cho trí huệthọ mệnh vô lượng tương trương cho từ bi. Vậy hồng danh A Di Đà hàm nghĩa bao hàm cả từ bi và trí tuệ.

Từ bi và Trí tuệ là hai dạng của Phật tánh. Trong Phật giáo Đại thừa (mahāyana), theo Tịnh Độ tôngtừ bi (maitrī-karuṇā) được thể hiện bởi Bồ tát Quán Thế Âm (Quán Tự Tại, Avalokiteśvara), còn Trí tuệ (prajñā) bởi Bồ tát Đại Thế Chí  (mahāsthāmaprāta).

Từ bi và Trí tuệ bổ sung nhau hợp thành Chánh giác, tương trưng bởi Phật A Di ĐàHình ảnh biểu trưng cho sự bổ sung kết hợp giữa Từ bi và Trí tuệ được thể hiện nơi cõi Tịnh độ, là mỗi khi đức Phật A Di Đà thuyết pháp thì Bồ tát Quán Thế Âm đứng chầu bên trái và Bồ tát Đại Thế Chí chầu bên phải

Tương tựDi Lặc (彌勒) là âm Hán Việt của phiên âm ra chữ Hán của từ Phạn Maitreya (p : metteyya).

ảnh – ducphatadida.com

Trong tiếng Phạn Maitreya có nghĩa là nhân đứcthân ái; cho nên đức Phật Di Lặc tượng trưng cho từ bi và thân ái đối với mọi chúng sinh.

Chính đức Phật Thích Ca khẳng đinh ý nghĩa ấy qua đối thoại với ngài A-Nan : A Nan hỏi:”’Làm sao chúng con biết được là Vị Phật tương lai?” .

Đức Phật trả lời: “Đức Phật đó là Di Lặc, có nghĩa là từ bi và thân ái “.

Các thánh tăng cũng đã dịch nghĩa của từ Maitreya ra chữ Hán là Từ Thị (慈 氏), là Họ Từ, Dòng Từ, nghĩa là Dòng Giống Từ Bi.

Vì ngài là biểu tượng của Từ bi và thân ái đối với mọi chúng sinh, nên tượng của ngài là một vị có bụng to và mặt vui cười, và người ta vẫn dùng từ Ông Phật Cười để chỉ ngài.

Ngài cũng có tên Ajita (अजित : s,p), có nghĩa là không thể vượt được, không thể thắng nổi, cho nên Hán dịch là Vô Năng Thắng (無能 勝)

Bài viết có hạn nên chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về ý nghĩa danh hiệu các vị phật quá khứ trong những bài tiếp theo. Các bạn hãy theo dõi Fanpage A Di Đà Phật để biết thêm nhiều thông tin hữu ích.

Nguồn : Giáo sư Lê Tự Hỷ 

Related posts

Leave a Comment